4. Sớ Khai Kinh Thánh Đản Bồ Tát Quan Thế Âm

(Nhân Hưng Từ Nguyện)

 

Nguyên văn:

 

伏以

因興慈願、故彰自在之形、爲應機緣、乃現普門之境、隨方接化、感以遂通疏爲越南國...省、...縣(郡)、...社、...村、本寺奉

佛修香諷經獻供開經恭遇觀音菩薩聖誕之辰祈安迎祥集福事。今弟子...等、維日拜干

大覺能仁、俯垂炤鑒念、弟子等天眞易昧、妄冒難除、蒙大悲之法水普傾、感臣測之冥勘何報。伏願、潮音恆震、誓海常融、運悲心而愍赴凡情、洒甘露而均霑枯木、消除熱惱、普示清涼、人人悟自在之音、个个入圓通之境。寔賴

佛恩之不可思議也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時。弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ:

Nhân hưng từ nguyện, cố chương Tự Tại1 chi hình; vị ứng cơ duyên, nãi hiện Phổ Môn2 chi cảnh; tùy phương tiếp hóa, cảm dĩ toại thông.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, bổn tự phụng Phật phúng kinh hiến cúng khai kinh cung ngộ Quan Âm Bồ Tát Thánh Đản chi thần,3 kỳ an nghinh tường tập phước sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can, Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.

  1. niệm: Đệ tử đẳng thiên chơn dị muội, vọng mạo nan trừ; mông đại bi chi pháp thủy phổ khuynh, cảm thần trắc chi minh khám hà báo.

Phục nguyện: Triều âm hằng chấn, thệ hải thường dung; vận bi tâm nhi mẫn phó phàm tình, sái Cam Lồ nhi quân triêm khô mộc; tiêu trừ nhiệt não, phổ thị thanh lương; nhân nhân ngộ Tự Tại chi âm, cá cá nhập Viên Thông4 chi cảnh. Thật lại Phật ân chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ … niên … nguyệt … nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Vì khởi lành nguyện, nên bày Tự Tại hình dung; để ứng cơ duyên, bèn hiện Phổ Môn cảnh giới; tùy nơi tiếp hóa, cảm ứng tất thông.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có chùa thờ Phật, dâng hương tụng kinh, gặp dịp Thánh Đản Bồ Tát Quan Thế Âm, cầu an đón lành gom phước. Nay có đệ tử ... , thành tâm cúi lạy, Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám.

Nép nghĩ: Đệ tử chúng con, nguồn chơn dễ lạc, vọng chấp khó trừ; nhờ rưới cùng khắp nước pháp đại bi, cảm thần cơ phò trợ sao báo đáp.

Lại nguyện: Tiếng triều thường chấn, biển thệ luôn dung; vận tâm bi mà thương đến phàm tình, rưới Cam Lồ cho thấm nhuần cây cỏ; tiêu trừ phiền não, khắp chốn mát tươi; người người ngộ Tự Tại âm thanh, kẻ kẻ nhập Viên Thông cảnh giới. Ngưỡng trông ơn Phật không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con kính thành dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Tự Tại (s: vaśitā, vaśitva, 自在): vaśitā có nghĩa là năng lực thuận theo ý một cách tự nhiên, trong khi đó, vaśitvathuận theo ý một cách tự nhiên; thế nhưng, về mặt ngữ nguyên thì cả hai không khác nhau. Từ Hán ngữ “tự tại” cũng có nghĩa là thuận theo ý một cách tự nhiên, đồng nghĩa với tự do (自由), là sự hoạt dụng của thân tâm xa lìa hết thảy mọi ràng buộc, được tự do tự tại. Trong kinh điển Phật Giáo, từ nầy được dùng để chỉ cảnh giới cũng như năng lực vô ngại của chư Phật và Bồ Tát vốn đã xa lìa sự ràng buộc của phiền não. Vị Bồ Tát thường có 2 loại tự tại là Quán Cảnh Tự Tại (境自在) và Năng Lực Tự Tại (能力自在). Về năng lực tự tại, có nhiều thuyết khác nhau như 2 loại tự tại, 4 loại tự tại, 5 loại tự tại, 8 loại tự tại, 10 loại tự tại, v.v. Trong Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvatasaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) quyển 26 có đề cập đến 10 loại năng lực tự tại được trang bị đầy đủ nơi vị Bồ Tát từ địa thứ 8 trở lên, gồm Mạng Tự Tại (命自在), Tâm Tự Tại (心自在), Tài Tự Tại (財自在), Nghiệp Tự Tại (業自在), Sanh Tự Tại (生自在), Nguyện Tự Tại (願自在), Tín Giải Tự Tại (信解自在), Như Ý Tự Tại (如意自在), Trí Tự Tại (智自在) và Pháp Tự Tại (法自在). Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (s: Mahāratnakūṭa-sūtra, 大寶積經) quyển 68 liệt kê 5 loại năng lực tự tại của vị Bồ Tát có Pháp Thân là Thọ Mạng Tự Tại (命自在), Sanh Tự Tại, Nghiệp Tự Tại, Giác Quan Tự Tại (覺觀自在), và Chúng Cụ Quả Báo Tự Tại (衆具果報自在). Tại Trúc Khê Tự (竹溪寺) ở Phố Đài Nam (臺南市), Đài Loan (臺灣) có câu đối rằng: “Trúc mậu thành lâm quán tự tại, khê trừng vọng nguyệt ức cô viên (竹茂成林觀自在溪澄望月憶孤園, trúc rậm thành rừng nhìn tự tại, khe trong trăng tỏ nhớ vườn xưa).” Hay tại Lý An Tự (理安寺) ở Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) cũng có câu đối diễn tả tâm cảnh tự tại thoát tục của đất trời như sau: “Sơn gian nhật nguyệt tự lai khứ, thiên tế phù vân vô thị phi (山間日月自來去天際浮雲無是非, trong núi trời trăng tự đi đến, bên trời mây nỗi chẳng thị phi).”
  2. Phổ Môn (s: samanta-mukha, 普門): còn gọi là Vô Lượng Môn (無量門), ý chỉ cho cánh cửa rộng mở dung chứa hết thảy. Thiên Thai Tông cho rằng đây là lý của Trung Đạo, thật tướng, tức biến khắp tất cả; cho nên chư Phật, Bồ Tát nương lý nầy mà có thể khai mở cửa vô lượng, thị hiện các loại thân hình để cứu độ nỗi khổ của chúng sanh và thành tựu Bồ Đề. Căn cứ trên lý nầy, Thiên Thai Tông nêu ra thuyết Thập Phổ Môn (十普門), gồm: Từ Bi Phổ (慈悲普), Hoằng Thệ Phổ (弘誓普), Tu Hành Phổ (修行普), Đoạn Cảm Phổ (斷感普), Nhập Pháp Môn Phổ (入法門普), Thần Thông Phổ (神通普), Phương Tiện Phổ (方便普), Thuyết Pháp Phổ (說法普), Thành Tựu Chúng Sanh Phổ (成就衆生普), Cúng Dường Chư Phật Phổ (供養諸佛普). Hành giả có thể nương vào các pháp môn nầy theo thứ tự tu hành thì sẽ hoàn thành đức tự hành hóa tha. Riêng Hoa Nghiêm Tông thì nhận thức Phổ Môn là lý của ‘chủ bạn’ đầy đủ trùng trùng vô tận do Viên Giáo thuyết ra; có nghĩa là trong một mà nhiếp hết thảy các pháp, cũng như Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng một của giáo pháp có thể thâu nhiếp cả toàn bộ các cửa. Hơn nữa, chư Phật, Bồ Tát nương vào các duyên, hiện đủ loại hình tướng để đến cứu độ chúng sanh; nên được gọi là Phổ Môn Thị Hiện (普門示現). Các kinh điển thuyết về Phổ Môn như Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品)thứ 25 của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 妙法蓮華經, Taishō No. 262), Phật Thuyết Phổ Môn Phẩm Kinh (佛說普門品經, Taishō No. 315), Quán Âm Kinh Phổ Môn Phẩm Phu Thuyết (觀音經普門品膚說), v.v. Tại Quan Âm Điện (觀音殿) của Quốc Thanh Tự (國清寺) ở Thiên Đài Sơn (天臺山), Tỉnh Triết Giang (浙江省), Trung Quốc có câu đối: “Pháp pháp viên thông cố danh Tự Tại, đầu đầu hợp đạo nhân hiệu Phổ Môn (法法圓通故名自在頭頭合道因號普門, pháp pháp viên thông gọi tên Tự Tại, người người hợp đạo mới hiệu Phổ Môn).”
  3. Theo quy định chung, hiện tại có 3 ngày lễ lớn kỷ niệm đức Quan Thế Âm Bồ Tát; ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày kỷ niệm Quan Thế Âm Bồ Tát Đản Sanh, ngày 19 tháng 6 là kỷ niệm Quan Thế Âm Bồ Tát Đắc Đạo, và ngày 19 tháng 9 là kỷ niệm Quan Thế Âm Bồ Tát Thành Đạo hay Xuất Gia.

Viên Thông (圓通): biến mãn cùng khắp tất cả, dung thông vô ngại; tức chỉ cho lý của thật tướng chứng được nhờ trí tuệ vi diệu của bậc thánh. Do nhờ trí tuệ ngộ được chơn như, bản chất tồn tại của vị ấy tròn đầy cùng khắp, tác dụng tự tại; đó gọi là viên thông. Hơn nữa, lấy trí tuệ để thông đạt đạo lý hay thực tiễn của chơn như, cũng có thể gọi là viên thông. Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經) quyển 5 cho rằng 25 vị Bồ Tát đều có đủ viên thông; có 25 loại viên thông như Sáu Trần, Sáu Căn, Sáu Thức, Bảy Đại, v.v. Ngoài ra, trong số 25 vị thánh của Hội Lăng Nghiêm, Quan Thế Âm được xem như là vị Bồ Tát có Nhĩ Căn Viên Thông bậc nhất; nên được gọi là Viên Thông Tôn (圓通尊), Viên Thông Đại Sĩ (圓通大士). Trong bài kệ xưng tán Bồ Tát Quan Thế Âm có câu: “Quan Âm Đại Sĩ, tất hiệu Viên Thông, Thập Nhị Đại Nguyện thệ hoằng thâm, khổ hải độ mê tân, cứu khổ tầm thanh, vô sát bất hiện thân (觀音大士、悉號圓通、十二大願誓弘深、苦海度迷津、救苦尋聲、無剎不現身, Quan Âm Đại Sĩ, ấy hiệu Viên Thông, Mười Hai Nguyện Lớn thệ rộng sâu, biển khổ độ quần mê, cứu khổ tìm thanh, không đâu chẳng hiện thân).” Hay như tại Viên Thông Điện (圓通殿) của Giang Tâm Tự (江心寺) ở Ôn Châu (溫州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối rằng: “Quán hạnh viên thông từ quán bi quán thanh tịnh quán, âm văn tự tại diệu âm Phạm âm hải triều âm (觀行圓通慈觀悲觀清淨觀、音聞自在妙音梵音海潮音, quán hạnh tròn suốt quán từ quán bi quán thanh tịnh, tiếng nghe tự tại tiếng mầu tiếng Phạm tiếng hải triều).” Hoặc như tại Quan Âm Tự (觀音寺), vùng Tân Đô (新都), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省) cũng có câu đối tương tợ như vậy: “Quán ngã quán nhân quán tự tại, đại bi đại nguyện đại viên thông (觀我觀人觀自在、大悲大願大圓通, quán ta quán người quán tự tại, đại bi đại nguyện đại viên thông).” Câu “nhân nhân ngộ Tự Tại chi âm, các cá nhập Viên Thông chi cảnh (人人悟自在之音、个个入圓通之境)” ở trên có nghĩa là mỗi người đều ngộ được âm thanh một cách tự tại vô ngại, và ai ai cũng được thể nhập vào cảnh giới tròn đầy thông suốt của chơn như.